Chào mừng bạn đến với webite Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Giang Vietnamese language Japanese language English language

TÌM KIẾM VĂN BẢN
WEBSITE LIÊN KẾT
THÔNG TIN
Thời tiết
Tỷ giá
Giá vàng
Chứng khoán
LIÊN HỆ QUẢN TRỊ

QUẢNG CÁO
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
Bạn đang xem: Trang chủ Môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư
FDI và cơ hội cho ngành nông nghiệp
Trong khi xu thế FDI vào khu vực nông nghiệp của cả thế giới đang ngày một tăng, thì ở Việt Nam lại đang xảy ra điều ngược lại.

Một số thay đổi trong cấu trúc và xu thế FDI toàn cầu

Khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm thay đổi lưu lượng và cấu trúc dòng vốn FDI toàn cầu. Theo Báo cáo Đầu tư Thế giới 2009 (WIR 2009) của Liên hiệp quốc, dòng FDI sẽ giảm từ 1.700 tỷ USD trong năm 2008 xuống còn 1.200 tỷ USD trong năm 2009, sau đó có thể tăng lên 1.400 tỷ USD trong năm 2010 và 1.800 tỷ USD trong năm 2011.
Về cơ cấu, do dòng vốn FDI đổ vào các nước phát triển giảm mạnh trong năm 2008, tỷ trọng FDI vào các nước đang phát triển đã chiếm tới 43% tổng lượng FDI toàn cầu. Trong sự thay đổi này, một xu thế quan trọng đối với các nước đang phát triển là dòng FDI chảy vào khu vực nông - lâm - ngư nghiệp (gọi chung là khu vực nông nghiệp) trong mấy năm trở lại đây đang tăng lên.
Nếu như trong những năm 1990, lượng vốn FDI trong nông nghiệp của toàn thế giới chưa tới 1 tỷ USD/năm, thì trong giai đoạn 2005-2007, con số này đã lên tới 3 tỷ USD/năm. Không những thế, các tập đoàn đa quốc gia ngày nay không chỉ tham gia vào các hoạt động ở hạ nguồn (như chế biến và siêu thị), mà còn mở rộng lên thượng nguồn, tham gia cả hoạt động sản xuất và ký hợp đồng tiêu thụ với nông dân, làm cho quy mô của FDI trong khu vực nông nghiệp ngày càng lớn.
Theo dự báo của WIR, xu thế này sẽ được duy trì trong tương lai vì một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, cầu đối với các sản phẩm nông nghiệp thường ít co giãn so với giá và thu nhập. Vì vậy, trong thời kỳ khủng khoảng, khi các ngành nhạy cảm với chu kỳ kinh tế như công nghiệp chế biến hay dịch vụ bị ảnh hưởng nặng nề, thì cầu đối với sản phẩm nông nghiệp lại tương đối ổn định.
Thứ hai, nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp đã và sẽ tiếp tục tăng nhanh ở cả những nước đông dân (như Trung Quốc, Ấn Độ, Brzil, Hàn Quốc) và những nước khan hiếm tài nguyên đất và nước (như các quốc gia vùng vịnh).
Thứ ba, bên cạnh nhu cầu tiêu dùng trực tiếp các sản phẩm nông nghiệp, hoạt động sản xuất năng lượng sinh học cũng đang tăng rất nhanh, khiến nhu cầu về mía, ngũ cốc, các hạt có dầu tăng theo.
Những xu thế này, cùng với tình hình giá lương thực tăng nhanh và sự lo ngại về an ninh lương thực ở nhiều nước trên thế giới là động lực thôi thúc các dòng vốn FDI tiếp tục chảy vào khu vực nông nghiệp ở các nước đang phát triển, nơi có lợi thế tương đối về nguồn lực đất, nước, và con người.
Mặc dù rất khó đo lường một cách đầy đủ tác động của FDI đối với khu vực nông nghiệp vì thiếu số liệu, song nhìn chung, sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài đã đóng góp một cách tích cực cho phát triển nông nghiệp.
Cụ thể là sự tham gia của các tập đoàn đa quốc gia góp phần thúc đẩy quá trình thương mại hóa và hiện đại hóa nông nghiệp ở các nước đang phát triển. Với việc ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm ngày càng trở nên phổ biến, kỹ năng, bí quyết, phương pháp canh tác, tiêu chuẩn vệ sinh, khả năng tiếp cận tín dụng, tiếp cận thị trường... của nông dân cũng được cải thiện đáng kể.
Những điều này giúp người nông dân thoát ra khỏi hoạt động sản xuất truyền thống để bước vào nền kinh tế thị trường toàn cầu.
 Xu thế đầu tư trong nông nghiệp ở Việt Nam
Trong khi xu thế FDI vào khu vực nông nghiệp của cả thế giới đang ngày một tăng, thì ở Việt Nam lại đang xảy ra điều ngược lại. Nếu như lượng giải ngân FDI trung bình trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp của Việt Nam trong 20 năm, từ 1988 đến 2007 là khoảng 100 triệu USD/năm, thì con số này giảm xuống còn 62 triệu trong giai đoạn 2002-2004 và chỉ còn 51 triệu trong giai đoạn 2005-2007. Tỷ trọng của FDI trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp cũng giảm một cách tương ứng.
Trong năm 2009, mặc dù chưa có số liệu về vốn FDI giải ngân, nhưng nhìn vào tỷ trọng 0,4% của vốn FDI đăng ký trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp cũng có thể thấy vai trò của FDI trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam đang tiếp tục suy giảm.
Điều đáng lo ngại không chỉ ở chỗ dòng FDI vào nông - lâm - ngư nghiệp ở Việt Nam đi ngược lại xu thế chung của thế giới, và do vậy khó tận dụng được cơ hội thị trường và lợi thế của Việt Nam, mà còn là sự không tương thích giữa tầm quan trọng của khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta.
Trong khi nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tới hơn 50% lực lượng lao động, đóng góp khoảng 20% cho GDP và chiếm khoảng 23% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước thì tỷ trọng đầu tư cho khu vực này lại giảm gần một nửa, từ 13,8% vào năm 2000 xuống chỉ còn 7,1% vào năm 2008, chủ yếu do sự suy giảm của đầu tư nhà nước.
Chính sách phát triển nông nghiệp trong vận hội mới
Phát triển nông nghiệp là yêu cầu có tính sống còn đối với một nền kinh tế đang phát triển và phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp như Việt Nam. Phát triển nông nghiệp về cả sản lượng và chất lượng là điều kiện cần để đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao mức sống của nông dân, và tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia.
Để phát triển nông nghiệp, Việt Nam cần một hệ thống chính sách đúng đắn nhằm thu hút đầu tư cả công và tư, cả trong và ngoài nước vào khu vực này. Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, chúng tôi không thể trình bày một cách đầy đủ về những chính sách cần thực hiện, vì vậy chỉ tập trung vào một số điểm trọng yếu.
Thứ nhất, cần xác định lại ưu tiên về đầu tư cho khu vực nông nghiệp. Với vai trò trọng yếu - không chỉ về kinh tế, mà còn về an sinh và xã hội - đầu tư trong nông nghiệp phải được duy trì ở mức xứng đáng chứ không thể bị suy giảm quá nhanh như hiện nay. Hơn thế, ở một nền kinh phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp như Việt Nam, nhà nước phải đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp thông qua việc đảm bảo một tỷ lệ đầu tư thích đáng, đồng thời đảm bảo những khoản đầu tư này được sử dụng một cách hiệu quả và công bằng.
Thứ hai, cần xác định lại ưu tiên cho chính sách công nghiệp hóa. Điều này tưởng chừng không can hệ gì đối với phát triển nông nghiệp, nhưng thực ra là ngược lại. Chú trọng quá mức vào việc tăng sản lượng công nghiệp sẽ chèn lấn nguồn lực của nông nghiệp - chẳng hạn như qua cơ chế chuyển đổi đất từ nông nghiệp sang công nghiệp một cách ào ạt, thiếu cân nhắc và không công bằng; hay qua cơ chế phân bổ tín dụng và áp đặt giá cánh kéo bất lợi cho nông nghiệp...
Là một nước nông nghiệp, một phần quan trọng trong chính sách công nghiệp của Việt Nam phải hướng đến việc nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp.
Thứ ba, quan niệm về an ninh lương thực cần được mở rộng, không chỉ bao hàm việc đảm bảo một diện tích đất nhất định được dành cho nông nghiệp, nhờ đó đạt được mức sản lượng mục tiêu.
Quan trọng hơn, an ninh lương thực là sự đảm bảo khả năng tiếp cận với các nguồn cung cấp lương thực một cách ổn định với giá chấp nhận được cho người dân. Việc đặt ra hạn chế trong chuyển đổi đất trồng lúa sang các mục đích nông nghiệp khác hay trong tích tụ ruộng đất vô hình trung đã làm đất trồng lúa bị giảm giá trị, và do đó giảm cơ hội tiếp cận tín dụng và gia tăng giá trị sản phẩm của họ.
Thứ tư, mặc dù việc thu hút đầu tư trong khu vực nông nghiệp là rất cần thiết, song nhà nước cần cân nhắc những mặt trái tiềm tàng của quá trình này, đặc biệt liên quan đến quá trình thu hồi đất trên diện rộng cũng như các tác động về văn hóa, xã hội và môi trường có thể xảy ra.
Để thực hiện mục tiêu này, nhà nước cần bảo vệ quyền sử dụng đất của nông dân và tạo điều kiện cho họ tham gia vào quá trình ra quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.
                                                           
                       Theo baodautu.vn
Các tin liên quan
Năm 2010, thu hút FDI đặt mục tiêu tăng 10%
Bắc Giang tạo động lực phát triển công nghiệp.
Khuyến khích doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư tại Việt Nam
Bắc Giang - điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư
Tiềm năng và lợi thế
Thông tin giá các dịch vụ cơ bản tại Bắc Giang
Định hướng phát triển và cơ hội đầu tư
THÔNG BÁO

Công văn số 1024/SKH-TĐDA về việc áp dụng chỉ định thầu theo văn bản số 299/TTg-KTN của Thủ tướng Chính phủ


Thông báo lịch kiểm tra đợt 2. Kiểm tra tình hình thực hiện dự án đầu tư ngòai khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Ảnh hoạt động






Quy trình một cửa
Những điều cần lưu ý khi đăng ký kinh doanh
1. Đăng ký kinh doanh Doanh nghiệp Tư nhân
2. Đăng ký kinh doanh Công ty TNHH hai thành viên trở lên
3. Đăng ký kinh doanh Công ty TNHH một thành viên
4. Đăng ký kinh doanh Công ty Cổ phần
 
Quy hoạch
Quy hoạch phát triển các Cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Quy định về hoạt động sản xuất ngạch, gói thủ công trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Quy hoạch mạng lưới chợ, trung tâm thương mại và siêu thị tỉnh Bắc Giang đến năm 2020
Một số hình ảnh quy hoạch khu đô thị mới phía nam Thành phố Bắc Giang
Quy hoạch phát triển điện lực 05 huyện: Việt Yên, Yên Dũng Lạng Giang, Hiệp Hoà và Tân Yên giai đoạn 2008 – 2013, có xét đến 2020
 
Lượt truy cập : 132217
Số người online : 13

Trang thông tin điện tử Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Giang


 o Bản quyền thuộc về Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Giang
 o Địa chỉ: Đường Nguyễn Gia Thiều, Thành phố Bắc Giang, Tỉnh Bắc Giang
 o Tel : 84-0240-854317 , Fax : 84-0240-854923 , Email
: skhdt@bacgiang.gov.vn
 o Ghi rõ nguồn "bacgiangdpi.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này